Tự ý xăm hình người khác có thể vào vòng lao lý

Tự ý xăm hình người khác khi chưa nhận được sự đồng ý của chủ nhân bức ảnh đó vô tình đã biến nhiều người trở thành vi phạm pháp luật do đã xâm phạm đến quyền nhân thân, quyền con người của người khác…

Tuy nhiên, một số người thay vì xăm hình như lẽ thường thấy thì lại xăm luôn hình ảnh của ai đó mà họ biết khi chưa nhận được sự đồng ý của chủ nhân bức ảnh đó, điều này vô tình  đã biến họ trở thành 1 người vi phạm pháp luật do đã xâm phạm đến quyền nhân thân, quyền con người của người khác.

Theo quy định của pháp luật nước ta, quyền của cá nhân đối với hình ảnh của mình là một trong những quyền cơ bản của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

Cụ thể, tại Điều 31 Bộ luật Dân sự có quy định:

Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 25 Bộ luật Dân sự, khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:

Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;

– Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.

Về bồi thường Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, tại Điều 592 Bộ luật dân sự 2015 có quy định như sau:

“1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

  1. a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
  2. b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
  3. c) Thiệt hại khác do luật quy định.
  4. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Tại Mục 3 Phần II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP Nghị quyết hướng dẫn quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có quy định như sau:

“Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm gồm có thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm; thiệt hại do danh dự, uy tín của tổ chức bị xâm phạm.

3.1. Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại bao gồm: chi phí cần thiết cho việc thu hồi ấn phẩm có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại; chi phí cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; tiền tàu, xe đi lại, thuê nhà trọ (nếu có) theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí để yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc, cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; chi phí tổ chức xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại và các chi phí thực tế, cần thiết khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại (nếu có).

3.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

  1. a) Nếu trước khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm có thu nhập thực tế, nhưng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm người bị xâm phạm phải thực hiện những công việc để hạn chế, khắc phục thiệt hại, nên khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

3.3. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

  1. c) Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào mức độ tồn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.”

Mặt khác, hành vi tự ý xăm hình ảnh của người khác lên cơ thể mình có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu tố cấu thành tội “làm nhục người khác” theo Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

  1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
  2. a) Phạm tội 02 lần trở lên;

…”

tư vấn pháp luật

Như vậy, việc yêu mến, thần tượng một người hoàn toàn là quyền của mỗi người, điều này là hợp pháp. Tuy nhiên, cách thể hiện sự mến mộ, thần tượng thì cần hết sức lưu ý nếu không bản thân mình sẽ vô tình vướng vào vòng lao lý mà không hay.

MỌI THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ: Chuyên gia Pháp lý Nguyễn Gia Hải (0972085122 – Call/Zalo:0972085122)