Những trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi không tố giác tội phạm?

Theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành thì hành vi không tố giác tội phạm được coi là tội phạm và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của bộ luật này. Tuy nhiên những trường hợp sau đây không bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi không tố giác tội phạm…

truy cứu trách nhiệm hình sự

Tuy nhiên, luật pháp Việt Nam, ngoài việc xây dựng trên cơ sở của công lý và lẽ công bằng thì khía cạnh đạo đức, văn hóa cũng luôn được coi trọng. Vì thế, với một số tội phạm và trong một số trường hợp, người có hành vi phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong đó có tội tội không tố giác tội phạm.

Tại điều 390 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về tội không tố giác tội phạm với khung hình phạt cao nhất lên đến 03 năm tù giam.

Nhưng hình phạt của tội danh này sẽ không được thực thi, tức là người phạm tội này sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau:

Thứ nhất: người không tố giác tội phạm là ông, bà,cha, mẹ, con, cháu,anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội mà không thuộc các trường hợp được quy định tại Chương XIII về các tội xâm phạm an ninh quốc gia của Bộ luật hình sự 2015 hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng.

Nội dung này được cụ thể hóa tại khoản 2 của điều 19, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

“Điều 19. Không tố giác tội phạm…..

  1. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

….”

 Trường hợp này thể hiện sự ghi nhận mối quan hệ tình cảm đặc biệt giữa những người thân thiết trong gia đình vốn là một trong những nét đặc trưng của truyền thống văn hóa dân tộc khi Nhà nước XHCN Việt Nam xây dựng luật pháp.

Thứ hai: Người bào chữa cho người phạm tội nếu tội danh đó không thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác. Cụ thể được quy định tại khoản 3 của điều luật trên như sau:

“3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.”

Ngoài ra, người có hành vi không tố giác tội phạm cũng có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người đó đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm theo khoản 2 của điều 390 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

“Điều 390. Tội không tố giác tội phạm….

  1. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”

Như vậy, với hành vi không tố giác tội phạm khi biết rõ tội phạm đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ 3 trường đã nêu trên./.

truy cứu trách nhiệm hình sự

Mọi thắc mắc và cần tư vấn pháp luật xin liên hệ: Luật gia Nguyễn Gia Hải – 0972085122