Ngăn cấm cha, mẹ thăm con sau ly hôn là bạo hành gia đình

Trước tiên ta có thể khẳng định: Cho dù quyền nuôi con thuộc về ai theo phán quyết của tòa án hay giữa vợ và chồng đã có thỏa thuận để người kia được quyền nuôi con thì tất cả mọi người (không loại trừ ai) đều không có quyền ngăn cấm cha, mẹ thăm con mình. Đây vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

ngăn cấm cha mẹ thăm con

Quyền và nghĩa vụ này của cha mẹ chỉ bị hạn chế hoặc tước bỏ khi có bằng chứng, căn cứ chứng minh người đó đang lạm dụng và gây ảnh hưởng xấu cho con, người trực tiếp nuôi con.

Lúc này, người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án có thẩm quyền ra quyết định hạn chế quyền thăm nom con theo khoản 3 điều 82 luật HNGĐ năm 2014:

“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

Tuy nhiên, nếu người đang trực tiếp nuôi con hoặc những người khác có hành vi cản trở, gây khó khăn và ngăn cấm cha được gặp, chăm sóc con mình một cách chính đáng thì họ đã vi phạm pháp luật. những hành vi này hoàn toàn bị pháp luật ngăn cấm bất kể ai có quyền nuôi con theo bản án của tòa đã xét xử việc ly hôn và quyền nuôi con giữa hai vợ chồng.

Cụ  thể, tại khoản 3 điều 82 luật hôn nhân có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ “thăm nom con mà không ai được cản trở” của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn:

“Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

  1. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.”

Song song với quy định trên, luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ trực tiếp nuôi con như sau:

“Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

  1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

Mặt khác, tại luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 còn khẳng định hành vi ngăn cản thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con cái là “hành vi bạo lực gia đình”. Tại điểm d, khoản 1 điều 2 luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 quy định như sau:

“Điều 2. Các hành vi bạo lực gia đình

  1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
  2. d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;”

Như vậy, hành vi cản trở, ngăn cấm cha mẹ thăm con mình hoàn toàn là vi phạm pháp luât và sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình bất kể hành vi đó do ai thực hiện, ai xúi giục.

Tại điều 53 của nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn xã hội, an ninh trật tự;phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình có quy định mức xử phạt đối với hành vi này như sau:

“Điều 53. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.”

Ngoài ra, người bị xâm phạm đến quyền thăm nom, chăm sóc con mình có thể yêu cầu các đơn vị tổ chức có thẩm quyền giải quyết, khắc phục những hành vi ngăn cấm đó hoặc yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.