Làm thế nào để được hưởng di sản thừa kế?

Thừa kế là một trong những chế định then chốt của bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, việc khai nhận di sản thừa kế đôi khi lại xảy ra nhiều vấn đề phức tạp. Bài viết này, Luật gia Nguyễn Gia Hải sẽ giúp mọi hiểu và nắm chắc được trình tự, thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Từ đó, tránh được những tranh chấp, sự việc phát sinh không mong muốn.

Luật gia Nguyễn Gia Hải (0972085122)

Trước tiên, cần xác định được nơi khai nhận di sản thừa kế theo quy định tại Điều 611 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 về thời điểm, địa điểm mở thừa kế. Theo đó, thời điểm mở thừa kế được xác định là thời điểm người có di sản để lại đã chết. Địa điểm mở thừa kế sẽ là nơi cư trú cuối cùng của người có di sản, nơi cư trú cuối cùng có thể là nơi người chết có hộ khẩu thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú có thời hạn của người đã chết.

Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì nơi mở thừa kế sẽ xác định là nơi có toàn bộ hoặc nơi có nhiều di sản thừa kế nhất.

Sau khi người có tài sản chết, những người có quyền lợi liên quan cần phải làm thủ tục khai tử tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người chết và tiến hành mở thừa kế.

Bên cạnh đó, địa điểm mở thừa kế ngoài việc là nơi làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế còn là nơi xác định Tòa án nào, cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền quyết định việc thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, giải quyết các quyền và lợi ích của những người liên quan đến di sản thừa kế.

Việc khai nhận di sản thừa kế phải được thực hiện bởi tất cả những người có quyền thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người để lại di sản. Cơ quan tiến hành khai nhận di sản thừa kế có thể là văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường nơi có bất động sản.

Những giấy tờ cần có khi tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế gồm:

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu di sản để lại là bất động sản như nhà cửa, đất đai, công trình xây dựng khác;

– Giấy chứng tử;

– Giấy tờ tùy thân của những người nhận thừa kế; giấy tờ khác nếu có (như: Giấy khai sinh của anh/chị/em; giấy chứng tử của bố mẹ người mất; giấy đăng ký kết hôn của người để lại di sản;…).

Nếu di sản là tài sản bắt buộc phải đăng kí quyền sở hữu thì cần tiến hành thêm thủ tục sang tên từ người để lại di sản sang người được hưởng di sản đó, đặc biệt là quyền sử dụng đất.

Thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai như sau:

– Nơi làm thủ tục: Văn phòng đăng ký đất đai

– Giấy tờ cần có: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp di sản thừa kế là bất động sản. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế; Giấy tờ tùy thân của những người thừa kế; những giấy tờ khác chứng minh quan hệ giữa người thừa kế và người để lại di sản thừa kế trong trường hợp thừa kế theo pháp luật (Sổ hộ khẩu, giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn…)

Hồ sơ sau khi được nộp đầy đủ, hợp lệ thì hồ sơ khai nhận di sản thừa kế sẽ được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thực hiện mở thừa kế niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông tin được niêm yết công khai, nếu không nhận được tố cáo hay khiếu nại gì thì cơ quan công chứng sẽ tiến hành công chứng văn bản chia di sản thừa kế theo quy định tại Điều 57 Luật Công chứng 2014.

Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế:

Tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

– Đối với tài sản là động sản: thời hiệu yêu cầu mở thừa kế là 10 năm.

– Đối với tài sản là bất động sản: thời hiệu yêu cầu mở thừa kế là 30 năm.

Thời hiệu này được xác định là khoảng thời gian để những người có quyền thừa kế yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện phân chia di sản, nếu quá thời hạn quy định này, người đang quản lý tài sản là di sản thừa kế này sẽ có quyền sở hữu tài sản đó. Nếu người đang quản lý di sản cũng đồng thời là người thừa kế thì di sản thuộc quyền sở hữu của họ. Nếu người đang quản lý di sản không phải là người thừa kế thì tài sản sẽ được xử lý như sau:

– Người đang quản lý di sản là người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai và phù hợp với quy định của pháp luật thì người này có quyền sở hữu tài sản.

– Trường hợp di sản để lại không có người chiếm hữu hay người được lợi về tài sản thì tài sản thuộc về quyền quản lý của Nhà nước.

Sau khi mở thừa kế, những người thừa kế có thể thỏa thuận chia di sản thừa kế hoặc thỏa thuận thực hiện các nghĩa vụ tài sản của người để lại thừa kế. Trường hợp có tranh chấp về di sản, người thừa kế có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp đó. Tuy nhiên, thời hạn yêu cầu Tòa án chia di sản do pháp luật quy định. Trong thời hạn đó, nếu những người thừa kế không thỏa thuận được việc chia di sản thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Hết thời hạn do pháp luật quy định mà những người thừa kế không yêu cầu chia di sản thì di sản sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Luật gia Nguyễn Gia Hải (0972085122)