ĐẶT CỌC TIỀN THUÊ NHÀ: NGƯỜI THUÊ CÓ THỂ PHẠT CHỦ NHÀ SỐ TIỀN GẤP NHIỀU LẦN

Trên thực tế, khi  cho thuê nhà, chủ nhà đều yêu cầu người thuê phải có một khoản tiền để  đảm bảo hợp đồng thuê nhà được bên thuê thực hiện, khoản tiền này gọi là tiền đặt cọc. Lúc này, các bên sẽ thỏa thuận cụ thể về nội dung điều khoản tiền đặt cọc.

Chia sẻ về nội dung này, Luật gia Nguyễn Gia Hải cho biết: Vấn đề cốt lõi trong thỏa thuận đặt cọc chính là việc xử lý tiền đặt cọc khi có sự vi phạm của một trong các bên liên quan. Tuy nhiên, vấn đề đầu tiên là giá trị khoản đặt cọc. Về vấn đề này, pháp luật không có quy định cụ thể mà chỉ định nghĩa thế nào là tiền đặt cọc.

Luật gia Nguyễn Gia Hải

Tại khoản 1 của điều 328 của bộ luật dân sự năm 2015 có quy định:

“Điều 328. Đặt cọc

  1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.”

Sau khi khoản tiền đặt cọc đã được thống nhất và thực hiện, việc phạt cọc sẽ diễn ra nếu một trong các bên vi phạm nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận, nội dung của hợp đồng.

Tại khoản 2 của điều luật trên cũng quy định: “Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Theo đó, nếu bên thuê nhà vi phạm nghĩa vụ và cam kết, thỏa thuận thì khoản tiền cọc mà bên thuê đã giao cho chủ nhà sẽ thuộc về người cho thuê và ngược lại.

Ngoài ra, do là quan hệ dân sự và được hai bên thỏa thuận lên, vì vậy mà mức phạt cọc cũng sẽ phụ thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên (nếu có)

Ví dụ: Ông A có thuê của ông B một căn nhà với giá thuê là 10 triệu đồng/1 tháng. Hai bên thống nhất với nhau là ông A sẽ đặt cọc cho ông B 1 khoản tiền là 30 triệu. Trong thời gian thuê nhà theo hợp đồng giữa hai bên, ông A mà vi phạm những cam kết, thỏa thuận hay đơn phương chấm dứt hợp đồng trái với hợp đồng thì khoản tiền 30 triệu mà ông A đã đặt cọc cho ông B sẽ thuộc về ông B. còn nếu ông B vi phạm  cam kết, thỏa thuận hay chấm dứt hợp đồng thuê nhà trái với nội dung của hợp đồng thì ông B sẽ phải hoàn trả 30 triệu tiền đặt cọc cho ông A và bồi thường gấp 3 lần tiền đặt cọc cho ông A.

Lúc này, nếu ông B, với tư cách là người cho thuê và vi phạm nghĩa vụ của mình với ông A là người thuê nhà thì ông B sẽ phải hoàn trả cho ông A số tiền là: 30 triệu tiền đặt cọc + 3 x 30 triệu tiền đặt cọc = 90 triệu. Tổng số tiền mà ông B phải hoàn trả cho ông A là 120 triệu nếu ông B vi phạm.

Từ những căn cứ pháp lý và ví dụ cụ thể nêu trên, người thuê nhà hay người cho thuê cần nắm rõ và có hành vi pháp lý chuẩn xác nhằm tránh thiệt hại cho mình khi xảy ra tranh chấp, hệ quả không mong muốn. – Ông Hải chia sẻ thêm.

Mọi vấn đề về pháp luật (dân sự, hình sự, hôn nhân gia đình, đất đai, doanh nghiệp…) cần tư vấn, trợ giúp vui lòng liên hệ:

Chuyên gia pháp lý Nguyễn Gia Hải (0972085122)