Cuộc chiến gia đình về đất

Tranh giành về đất là bài ca muôn thủa không phải chỉ có giữa các quốc gia trên thế giới mà nó còn xảy ra trong các gia đình, đến nỗi mất hết tình thân yêu, tình máu mủ ruột già. Cuộc chiến này đang xảy ra giữa gia đình ông Nguyễn Văn Dũng với mẹ con bà mẹ kế Phùng Thị Nhớn tại thôn Khoang Sau, xã Sơn Đông, Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, mà vợ chồng ông Dũng là nạn nhân và đang bị dồn vào chân tường.

Lời trần tình – đọc mà rớt nước mắt

Trong đơn kêu cứu gửi Tạp chí điện tử Tri Ân, cựu chiến binh Nguyễn Văn Dũng viết:

Thửa đất số 2+220, (diện tích 360m2), thửa số 221 (diện tích tích 113,8m2). Đây là mảnh đất của vợ chồng tôi được UBND xã Sơn Đông cấp năm 1982, khi chúng tôi xây dựng gia đình không có nhà ở. Hai vợ chồng đều là bộ đội, chồng là bệnh binh 2/3. Còn đất và tài sản của ông Nguyễn Hùng Sơn – bố anh là ở chỗ khác.

Những văn bản liên quan đến việc cấp đất cho gia đình ông Nguyễn Văn Dũng

Chúng tôi được biết ông Nguyễn Hùng Sơn làm chủ mảnh đất tại thôn Khoang Sau, diện tích hơn 1000m2. Từ năm 1954. UBND xã cấp đất và căn nhà ở thôn Điếm Ba (xã Sơn Đông) cho ông Nguyễn Hùng Sơn và bà Hoàng Thị Ngọn, vì ông sơn là bộ đội xuất ngũ. Bà Hoàng Thị Ngọn là người dân tộc Tày quê ở Cao Bằng, do không quen lối sống ở dưới xuôi nên thường về Cao Bằng ở với mẹ đẻ. Chính vì thế năm 1963, ông Sơn đã sinh sống với bà Phùng Thị Nhớn không có hôn thú. Bà ta là người địa phương. Thế là mỗi lần bà Hoàng Thị Ngọn về là phải ăn nhờ ở đậu nhà người khác. Nhiều lần như vậy nên bà đành tay trắng về ở với mẹ trên Cao Bằng. Sau khi ở cùng bà Nhớn, năm 1963 ông Sơn bán ngôi nhà và mảnh đất mà ông và bà Ngọn cùng 3 người con với bà Ngọn gắn bó từ 1954. Nơi mà gia đình này cùng nhau xây dựng tôn tạo. Ông và bà Nhớn lên khai hoang hơn 1000m2 đất ở thôn Khoang Sau. Ông Sơn và 3 người con riêng với bà Ngọn cũng góp phần xây dựng. Các con riêng của ông trưởng thành, rồi đi thoát ly. Đến năm 1991 thì ông qua đời. Bà Phùng Thị Nhớn và ba người con trai cùng cha với tôi ở trên diện tích 1000m2, nhà cửa khang trang.

Mẹ ghẻ con chồng

Câu tục ngữ quen thuộc của dân tộc, phản ánh thực tế về mối quan hê giữa mẹ kế (dì ghẻ) với con chồng: ” Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng”, quả là rất đúng trong trường  hợp bà Phùng Thị Nhớn và anh Nguyễn Văn Dũng.

Anh Nguyễn Văn Dũng nhập ngũ năm 1972, tham gia chiến đấu ở chiến trường Bình Định. Sau giải phóng, đóng quân ở Tây Nguyên. Năm 1981 vì điều kiện sức khỏe, anh được xuất ngũ, hưởng chế độ bệnh binh 2/3. Năm 1980, anh kết hôn với chị Hoàng Thị Miền là bộ đội phục viên. Do không có nhà riêng, chị Miền phải ở chung với gia đình nhà chồng, chị cũng nếm cảnh dì ghẻ con chồng. Năm 1981 anh Dũng được ra quân với chế độ bệnh binh. Trước hoàn cảnh của vợ chồng anh, địa phương đã cấp đất cho anh chị làm nhà ở. Năm 2003 chủ trương làm sổ đỏ, gia đình anh nộp hồ sơ và chờ. Mãi không thấy có sổ. Năm 2009, hỏi xã thì được biết do mẹ con của bà Nhớn có tranh chấp về mảnh đất của gia đình anh đang ở, nên không đủ điều kiện cấp sổ đỏ. Những năm sau đó, gia đình anh lấy các giấy tờ liên quan, giấy xác nhận của các cán bộ giải quyết cấp đất cho gia đình anh thời kỳ đó, nhưng câu chuyện về sổ đỏ của mảnh đất của gia đình anh vẫn không được giải quyết. Chuyện tranh chấp đất trong gia đình là câu chuyện của sự thiếu tình người. Nhưng tòa án là cán cân công lý tại sao lại có cách nhìn và phán xử khác nhau.

Câu chyện cái tình

Diện tích trên 1000 m2 đất ở Khoang Sau, hiện nay mẹ con bà Phùng Thị Nhớn đang ở, phải xác định rõ nguồn gốc diện tích đất và tài sản hình thành trên đất là có sự đóng góp của vợ chồng ông Nguyễn Hùng Sơn, bà Hoàng Thị Ngọn và các con của hai cụ là: Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thị Mai và Nguyễn Văn Dũng. Vì mảnh đất và ngôi nhà của họ, được cấp năm 1954 là một trong những nguồn tài sản hình thành nên tài sản trên 1.000 m2 đất ở Khoang Sau. Tài sản ấy cụ Sơn mất đi thì quyền thừa kế của các con riêng của cụ với bà Ngọn vẫn có quyền lợi và  được hưởng một phần nào đó. Họ đã ra đi hai bàn tay trắng, không lời đòi hỏi. Tại sao bà Phùng Thị Nhớn và các con của bà không nghĩ tới điều đó, mà lại đòi hỏi tranh chấp với người con riêng của cụ, người anh cùng cha khác mẹ của các con bà một cách thiếu tình người và tàn nhẫn đến như vậy.

Nhà của gia đình ông Nguyễn Văn Dũng  nếu bi cưỡng chế sẽ vào tận cửa và mất lối đi

Mặc dù trong Tòa án phúc thẩm do tòa án nhân dân Hà Nội mở ngay 22-23/7/2020, các ông Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Chung, Nguyễn Văn Mạnh là những người anh em cùng cha khác mẹ với ông Nguyễn Văn Dũng có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và đơn rút toàn bộ kháng cáo. Nhưng bà Phùng Thị Nhớn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo. Câu chuyện diễn ra tưởng như rất nhân văn, nhưng không phải là thế.

Câu chuyện cái lý

Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây (TP. Hà Nội) ngày 16/1/2020, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp di sản thửa kế” Nguyên đơn là bà Phùng Thị Nhớn và 3 người con trai. Bị đơn là ông Nguyễn Văn Dũng và bà Hoàng Thị Miền.  

Luật sư bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Thửa đất hiện tại vợ chồng anh Dũng, chị Miền đang sử dụng nguồn gốc là do ông Sơn, bà Nhớn khai hoang từ năm 1975 mà có. Năm 1985 xã Sơn Đông lập bản đồ 299/1985 và trong “sổ dã ngoại” của xã là thửa số 222, diện tích 712 m2 đứng tên người sử dụng là ông Sơn. Ông Sơn chết không để lại di chúc. Đề nghị HĐXX chấp nhận và chia thửa đất trên cho bà Nhớn bằng 1/4. Phần tích đất còn lại chia cho các con của cụ Sơn theo pháp luật thừa kế và chia bằng hiện vật cho 4 người con của bà Nhớn. Đề nghị giải quyết theo hướng tính phần diện tích của vợ chồng anh Dũng đã bán và kỷ phần anh Dũng được chia(nếu đủ). Trường hợp phần diện tích đó không đủ thì anh Dũng phải tự thỏa thuận hoặc có tránh nhiệm bồi thường bên mua đất.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Sơn Tây tại phiên tòa: Bác đơn khỏi kiện của bà Phùng Thị Nhớn về việc yêu cầu được chia một phần diện tích đất với vợ chồng anh Dũng; bác yêu cầu của các anh Nguyễn Văn Thành, anh Nguyễn Văn Chung … và anh Nguyễn Văn Mạnh về việc yêu cầu chia thừa kế tài sản đất đai đối với vợ chồng anh Nguyễn Văn Dũng, chị Hoàng Thị Miền. Xác nhận thửa đất số 2+200 ( diện tích 360m2), thửa số 221( diện tích 113,8m2 ), Tổng cộng 473,8m2 tại thôn Khoang Sau, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tât (Hà Nội)… vợ chồng anh Dũng được quyền sử dụng diện tích đất này và tài sản có trên mặt đất. Xác nhận việc chuyển nhượng 113,8m2 đất tại thửa số 221 là hợp pháp.

Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây, TP.Hà Nội nhận định: Trên thực tế có cơ sở chứng minh thửa đất vợ chồng ông Dũng, bà Miền đang ở, quản lý, là được Ủy ban nhân dân xã Sơn Đông cấp cho vợ chồng ông Dũng, bà Miền theo tiêu chuẩn bộ đội phục viên về địa phương.

Tâm sự

Chuyện về tranh chấp đất đai  giữa bà Phùng Thị Nhớn và các con với chồng anh Nguyễn Văn Dũng và Hoàng Thị Miền không khác gì câu chuyện Tào Phi ép Tào Thực, đi bảy bước đọc bảy câu thơ. Bởi vì Tào Phi muốn ép Tào Thực phải chết vì sợ Thực tài hơn đe dọa đến ngôi báu. Tào Thực vừa đi, vừa khóc vừa đọc thơ “Cẳng đậu đun hạt đậu/ Hạt đậu khóc hu hu/ Vốn sinh ở một gốc/mỡ thui nhau thế ru” . Cả quần thần dự buổi chầu đều khóc. Tào Phi cũng ứa nước mắt mà tha chết cho Tào Thực. Chuyện của người Tầu thời Tam Quốc kể lại như vậy, cuộc chiến tranh dành đất mặc dù 3 người con trai của cụ Nhớn rút đơn khởi kiện và đơn kháng cáo nhưng câu chuyện vẫn tiếp diễn theo chiều hướng xấu, thiếu tình người. Nếu như cách chia của Tòa phúc thẩm thì khuôn viên của gia đình thuộc đối tượng người có công sẽ bị hủy hoại, mất lối đi, mất sân, thậm chí ảnh hướng tới cả ngôi nhà mà họ tạo dựng từ 1982 đến nay. Tòa phúc thẩm có nghĩ tới tình huống các chị em anh Nguyễn Văn Dũng cũng khởi kiện đòi chia sẽ quyền lợi của họ tại diện tích trên 1000m2 mà mẹ con cụ Phùng Thị Nhớn đang ở (thôn Khoang Sau, xã Sơn Đồng, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội). Phán quyết của Tòa như kích thích thêm sự phân hóa trong gia đình và càng làm cho gia đình mâu thuẫn.

Điều khó hiểu, những chứng cứ, tài liệu của gia đình anh Dũng trình bày như bị bỏ qua còn chứng cứ, tài liệu của nguyên đơn sơ sài , không có sức thuyết phục thị lại được coi trọng viện dẫn trước tòa việc cụ Nguyễn Hùng Sơn và cụ Phùng Thị Nhớn khai hoang trên 712m2, vậy diện tích  xã đã cấp cho vợ chồng anh Nguyễn Văn Dũng hiện này còn không? Nếu không còn thì xã đã đưa cho ai, diện tích người đó đã được cấp sổ đỏ chưa?  

Việc viện dẫn Sổ Dã ngoại để chứng minh đất của gia đình anh Dũng là đất của ông Sơn là không đúng. Vì công văn số 1568/BTNMT – ĐKTKĐĐ của Bộ Tài nguyên & Môi trường đã giải thích rõ: Sổ Dã ngoại là loại sổ lập theo hướng dẫn của Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên & Môi trường)  trong quá trình thực hiện chỉ thị 229 -TTg ngày 10.11.1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước. Sổ này được lập trong quá trình đo đạc, lập bản đồ giải thửa hoặc bản đồ địa chính (trước khi tổ chức đăng ký quyền sử dụng đất) để thể hiện các thông tin điều tra, đo đạc ban đầu về hiện trạng sử dụng đất như số liệu thửa đất, tên người sử dụng đất, nên Sổ Dã ngoại không được coi là một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 điều 100 của luật đất đai 2013.

Kỳ lạ là những giấy tờ liên quan đến việc cấp đất, những lời khai của của nhân chứng có chức vụ, quyền quản lý đất đai của địa phương xác nhận, những hóa đơn nộp tiền thuế đất của vợ chồng anh Dũng trình tòa không được xét tới. Xin được trích xác nhận của cụ Đào Văn Ước, nguyên là cán bộ địa chính, người có trách nhiệm quản lý ruộng đất xã Sơn Đông từ1960 đến năm 1985 và thành viên giải quyết đất thổ cư cho ông Dũng ngày 9/4/1982, như sau: UBND xã Sơn Đông đã cấp đất cho ông Nguyễn Văn Dũng 59 tuổi làm nhà từ năm 1982, thuộc bản đồ đo đạc 299 tờ bản đồ số 12 số thửa 222, anh Dũng đang sử dụng là đúng, nay tôi chứng nhận để anh Dũng được quyền sử dụng đất về sau.

Quyết định của Tòa phúc thẩm chưa thấu tình đạt lý nên vợ chồng anh Dũng đã làm đơn đền nghị giám đốc thẩm. Tiếc thay ngày 29.1.2021, Tòa án cấp cao tại Hà Nội đã có thông báo trả lời “Không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục của giảm đốc thẩm” gửi tới gia đình anh, lại một thùng nước lạnh dội vào cả gia đình, làm họ tỉnh lại trước tình người mà đồng tiền và lợi ích đã làm cho đại gia đình tan nát.

Cán cân công lý nghiêng về đâu, người tham gia chiến đấu giải phóng và giữ gìn bình yên cho đất nước hay vì những người hám lợi coi tiền là tất cả trong đời sống xã hội và trong tình cảm gia đình.

Nói thêm: Khi bài báo chuẩn bị cho lên trang thì Tạp chí điện tử Tri Ân nhận được một tin nhắn của bạn đọc. Họ chuyển cho chúng tôi hai văn bản và chỉ ra những điểm sai trong nội dung. Là những người làm báo, chúng tôi thật sự choáng váng bởi những gì nhìn thấy. Cũng như việc Tòa án nhân dân thành phố xác định quan hệ tranh chấp trong bản án là “tranh chấp tài sản chung” chứ không phải là “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Đó là một xác định sai về bản chất và thể hiện sự am hiểu về pháp luật. Tạp chí xin đưa ảnh hai văn bản luật  và xin có có vài lời bình như sau:

Sự khập khiễng trong hai văn bản pháp luật

Giấy báo số 159/GB -THADS ngày 20.4.2021 yêu cầu vợ chồng ong Dũng có mặt theo thông báo 356/TB-THADS ngày 15.4.2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây. Nhưng thực ra số thông báo về việc thực hiện án dân sự có số 365 chứ không phải là số 356 như giấy báo. Một văn bản pháp luật của Nhà nước mà Cơ quan thi hành án viết sai thì việc xét xử của Tòa người ta nghĩ như thế nào. Vì Tòa phải xử lý với khối lượng công việc nhiều phải có kiến thức về luật uyên thâm đặc biệt là có tầm và tâm. Chuyện sơ đẳng nhìn và viết lại còn sai thì việc xét xử e rằng lệch so với chân lý có lẽ… là không có gì là lạ./.  

Nguồn: Đỗ Minh Triết/Trian.vn

Trả lời