Con trộm cắp tài sản của bố mẹ vẫn sẽ bị hình phạt tù lên đến 20 năm

Vấn đề con cái trộm cắp trong nhà đôi khi chẳng bố mẹ nào đi tố cáo con mình. Tuy nhiên, nếu tố cáo, con cái họ có phạm tội không? Nếu phạm tội thì bị xử lý như thế nào? Dưới đây là nội dung tư vấn, chia sẻ quy định pháp luật của Chuyên gia pháp lý Nguyễn Gia Hải dưới góc độ pháp lý.

Ông Nguyễn Gia Hải – Chuyên gia tư vấn, trợ giúp pháp lý trong và ngoài tố tụng (Sđt: 0972085122)

Trước tiên, ta có thể khẳng định: Con cái trộm cắp tài sản của bố mẹ không phải là trường hợp ngoại lệ đối với người thực hiện hành vi để không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này.

Vì việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không tùy thuộc vào nhiều yếu tố như hậu quả, hành vi, độ tuổi,…Việc này không loại trừ tội phạm nào kể cả việc con cái trộm cắp tài sản của bố mẹ. Điều này có nghĩa là: nếu đủ căn cứ chứng minh rằng con cái có hành vi trộm cắp và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị khởi tố như thường.

Cụ thể:

Về hành vi, Trộm cắp là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản lí. Việc trộm cắp tài sản là hành vi trái pháp luật vì đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác và gây nguy hiểm cho xã hội.

Về độ tuổi. Nếu con dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Nếu con từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi, sẽ phải chịu trách nhiệm với hành vi trộm cắp tài sản có tính rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

Từ đủ 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm với mọi tội phạm và không loại trừ tội trộm cắp tài sản. Quy định này được cụ thể hỏa từ Điều 12 Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

“Điều 12: Tội chịu trách nhiệm hình sự

  1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
  2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”

Như vậy, khi thỏa mãn cả về hành vi và độ tuổi đồng thời đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì con cái trộm cắp tài sản của bố mẹ vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật như thường.

Khung hình phạt của tội trộm cắp tài sản được xác định dựa vào giá trị tài sản trộm cắp. Theo đó, nếu tài sản bị trộm cắp trên 2 triệu sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp con trộm tài sản dưới hai triệu nhưng thuộc các trường hợp như: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản; Đã bị kết án về một trong các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì vẫn phải chịu trách nhiệm hính sự như bình thường.

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

  1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
  2. a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
  3. b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  4. c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  5. d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

  1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
  2. a) Có tổ chức;
  3. b) Có tính chất chuyên nghiệp;
  4. c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
  5. d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

  1. e) Tài sản là bảo vật quốc gia;
  2. g) Tái phạm nguy hiểm.
  3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
  4. a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
  5. b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
  6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
  7. a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
  8. b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
  9. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Theo đó, căn cứ vào tính chất, mức độ mà pháp luật quy định mức phạt của hành vi trộm cắp tài sản, hình phạt đối với con cái trộm cắp tài sản cao nhất đến 20 năm, nhẹ nhất là cải tạo không giam giữ đến 6 tháng. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng theo khoản 5 của điều luật này.

Pháp luật là như vậy nhưng thực tế lại gần như chưa có tiền lệ bố mẹ đi tố cáo con. Bởi với bố mẹ, giáo dục con cái bằng tình yêu thương bên cạnh sự che chở, đùm bọc. Pháp luật khi ấy chỉ được lựa chọn khi không còn phương án nào khác và nó là giải pháp cuối cùng./.

Mọi vấn đề, thắc mắc cần tư vấn vui lòng liên hệ:

Ông Nguyễn Gia Hải, chuyên gia tư vấn pháp luật miễn phí; trợ giúp, hỗ trợ pháp luật hàng đầu tại Việt Nam.

Số điện thoại: 0972085122 (Call/zalo)