Cách chế biến củ kiệu chữa đau ngực lan ra sau lưng

Củ kiệu được trồng nhiều nơi ở các tỉnh, phần nhiều là các tỉnh phía Bắc. Củ kiệu vị cay, đắng, tính ấm, qui kinh vào kinh phế, vị và đại trường giúp thông dương khí, giáng trọc khí, lợi khiếu, trừ hàn đàm, điều khí, thông trệ. Chủ trị ngực đầy, ngực đau (hung tý), ngực đau lan ra sau lưng, khí trệ ở đại trường, tiêu chảy, kiết lỵ.

củ kiệu

– Chữa tức ngực, đau tức ở vùng tim (do tâm hàn thống): Củ kiệu 14g, chỉ thực 4 trái, hậu phác 12g, quế chi 8g, qua lâu 1 trái (giã nát) sắc uống ngày một thang.

– Chữa đau bụng đi ngoài (do lỵ): Củ kiệu loại còn tươi 30- 40g nấu cháo ăn vài ngày.

– Chữa tức ngực khó thở (do đàm tắc trở): Nấu cháo củ kiệu với hạt kê ăn lâu ngày.

– Chữa phụ nữ có thai lạnh bụng, đau bụng (động thai): Củ kiệu 30g, đương quy 10g sắc uống.

– Chữa sản phụ bị kiết lỵ: Kiệu non xào với cật heo ăn.

– Chữa viêm mũi mạn tính (tỵ uyên): Củ kiệu 9g, tân di hoa 6g, mộc qua 9g sắc nước uống ngày 2-3 lần, liệu trình 2-3 tuần.

– Chữa kiết lỵ, ỉa chảy, mót rặn: Giới bạch 12g, sài hồ 9g, bạch thược 12g, chỉ thực 6g, cam thảo 4g sắc nước uống.

– Chữa xích lỵ, đi lỵ phân lẫn máu: Giới bạch 12g, hoàng bá 6g. Sắc nước uống hoặc dùng kiệu còn non 1 nắm thái nhỏ, nấu cháo ăn.

– Chữa lở ngứa: Dùng lá kiệu nấu nước rửa hoặc giã nát đắp lên chỗ da bị bệnh.

– Chữa bỏng: Dùng kiệu giã nhỏ, hòa với mật ong, vắt lấy nước bôi vào chỗ bị bỏng, giúp da mau lành.

Củ có tính ôn là thực phẩm rất tốt cho mùa đông, mùa xuân thời tiết lạnh. Tuy nhiên nội nhiệt không nên lạm dụng, ăn nhiều một lúc gây nóng gan, tổn khí. Củ không dùng trong trường hợp khí hư yếu không bị trệ, ngực đau không phải do hàn.

Lương y Nguyễn Văn Sáu (TT Y tế Bà Rịa)